La Krutenau

“Wasn’t I lucky to be born in my favorite city?”
– Tootie, Meet Me in St. Louis


Khu phố Bourse – Esplanade – Krutenau của Strasbourg trong cảm tưởng của tôi là cả một châu Âu thu nhỏ. Rất nhiều những con phố hay quảng trường ở đây được đặt theo tên những thành phố nổi tiếng của Lục địa già: rue de Stuttgart, rue d’Istanbul, rue d’Ankara, place d’Athènes, rue d’Oslo, rue de Stockholm, rue de Genève, rue de Berne, rue de Lausanne, rue de Lucerne, rue/place de Zurich, rue de Milan, rue de Rome, v.v… Gắn với đó đôi khi là những bến dừng xe buýt mang độc cái tên của các thành phố ấy: Ankara, Zurich, Rome, hay đặc biệt là Palerme – nơi tôi vẫn thường khởi hành những cuộc lang thang không đích đến của mình – khiến người ta dễ có cảm giác như chỉ cần bước xuống xe buýt hoặc tram là đã đặt chân đến Đức, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp hay Thụy Sĩ. Tất nhiên không chỉ có tên các thành phố: quai des Alpes, route du Rhin hay quartier Danube là những ví dụ điển hình của việc núi và sông ở Tây (và Đông) Âu cũng có thể trở thành những địa danh ở nơi đây. Strasbourg không phải thành phố duy nhất làm điều này, nhưng trong một khu vực địa lý không quá lớn, những cái tên ấy vẫn xuất hiện một cách dày đặc, thậm chí nối liền nhau dọc các trục đường; rõ ràng đó không phải một sự ngẫu nhiên. Phải chăng, ngoài một vài đặc quyền chính trị, vì lẽ đó nữa mà Strasbourg thường kiêu kỳ mang cho mình danh xưng capitale européenne?


Từ bến Palerme, tôi có thể bắt hai chuyến buýt cùng số hiệu 30 để đi đến la Krutenau. Có lẽ vì sở thích xem phim, thích được nhìn mọi thứ qua những khung hình, tôi yêu cái cảm giác được đứng trong xe buýt nhìn cảnh vật bên ngoài lướt nhanh trước mắt qua ô cửa kính (“Ta không biết nhìn vào thứ ta có trước mắt trừ khi nó nằm trong một khung hình” – Abbas Kiarostami). Những ngày mưa hay tuyết, ô kính mờ hơi nước ấy cho tôi cái sung sướng được tưởng tượng ra khung cảnh London ẩn hiện dưới làn sương mù trong tiểu thuyết của Dickens. Strasbourg không phải là London, nhưng ở Strasbourg không thiếu những địa danh gợi nhớ đến nước Anh: rue de Londres (London), rue de Leicester, place Winston Churchill. Gần khu phố port du Rhin – cửa ô giáp biên giới Đức – còn có rue de Dunkerque (và bến xe buýt Dunkerque) khiến ai cũng có thể nghĩ ngay đến cuộc di tản lịch sử của quân Anh khỏi thành phố cảng miền bắc nước Pháp cùng bài diễn văn nổi tiếng của Churchill trong Thế chiến thứ hai (tôi biết, Christopher Nolan!). Và cũng chỉ cần thế thôi là tôi đã có nước Anh trong tầm với của mình. Các thành phố, với tôi, là cuộc chơi miên man của những cái tên.

Ở trên xe buýt, một thú vui nữa của tôi đó là lắng tai nghe tiếng thông báo các điểm dừng của xe, như thể có một người hướng dẫn viên du lịch đang trịnh trọng cho tôi biết những địa danh tôi đang được chiêm ngưỡng. Xe 30 sẽ đi qua khu hành chính Cité administrative với những bức tường cũ kỹ chạy dài để ra khỏi Esplanade và tiến vào la Krutenau. Từ Palerme, chỉ 2 bến dừng là tôi sẽ xuống xe, khi tiếng thông báo “prochain arrêt: Krutenau” vang lên và những ngôi nhà với nét kiến trúc khung gỗ bao quanh các ô tường gạch (half-timbered) rực rỡ sắc màu đặc chưng của Alsace hiện ra. Vậy là đủ, phần còn lại của cuộc dạo chơi sẽ nằm ở công cuộc thả bộ.


Tôi từng thắc mắc nếu Patrick Modiano viết một cuốn thiểu thuyết về Strasbourg thay vì Paris, liệu nó sẽ có dáng dấp thế nào. Nhưng rồi ở đây tôi nhận được một câu trả lời còn vượt ngoài mong đợi, đó là bộ phim Dans la ville de Sylvia (Ở thành phố của Sylvia) của José Luis Guerín. Một tác phẩm điện ảnh như thể được làm ra dành riêng cho những người yêu Strasbourg. Guerín thậm chí còn chẳng phải một người Pháp, nhưng có lẽ chính vì lý do đó mà Strasbourg hiện lên trong phim của ông một cách sống động và đồng điệu với tôi – một người cũng chẳng xuất thân từ nơi đây – hơn bao giờ hết. Guerín hiểu rõ hơn ai hết ông sẽ không bao giờ có thể ghi lại tất cả vẻ đẹp của thành phố này trong cái hữu hạn của khung hình. Những kết nối chằng chịt của các con đường, những mê hoặc của các góc phố, những lịch sử ngàn đời của một tòa nhà, một quảng trường, một cây cầu, một bờ sông; ngôn từ có thể tái tạo lại chúng và kéo người đọc vào thế giới mà nó dựng nên, còn với hình ảnh, người ta chẳng dễ dàng làm điều đó một cách trọn vẹn, nhất là trong thời lượng (thường) không dài của một bộ phim.

Ngay ở la Krutenau này thôi, mỗi lần dạo chơi tôi lại phát hiện thêm thật nhiều những bí mật nó ẩn dấu trong từng góc phố mà khung hình máy quay sẽ chẳng thể nào gợi lên nổi. Như con phố nhỏ rẽ nhánh từ rue de Zurich đâm ra quảng trường place de Zurich với cái tên ngộ nghĩnh nhất Strasbourg, rue du Renard Prêchant, bắt nguồn từ sự tích một ngư dân bị người chăn vịt hàng xóm ban đêm rình cướp mất những mẻ lưới cá bèn ra tay trả thù bằng cách chôm lại đàn vịt của tay hàng xóm và đổ lỗi cho loài cáo dẻo miệng (renard prêchant) đã lừa lũ vịt đi mất.
Hay, ẩn mình sau những bức tường khá mới mẻ, những giàn giáo phủ vải bạt và những áp-phích sặc sỡ trên đó nổi bật một dòng chữ không thể hợp thời hơn, “la Fabrique du Futur”, là nhà máy thuốc lá Manufacture des tabacs mà người dân ở đây thường gọi thân mật “la Manu”, thứ đã trở thành một phần lịch sử của Strasbourg đến mức trên tường hành lang khu nhà tôi ở cũng có một bức vẽ “la Manu”. Chỉ cần bước qua cánh cổng lúc nào cũng mở và thường xuyên có những công nhân xây dựng ra vào của nhà máy là sẽ nhìn ngay thấy một cột khói cao ngất. Lẽ dĩ nhiên, một người yêu Ozu như tôi khi đó không thể không liên tưởng ngay đến cột khói hỏa thiêu, nơi bên kia bờ sông cameo của Chishu Ryu cùng người vợ nông dân của mình nói chuyện về những con quạ và vòng sinh tử luân hồi, trong The End of Summer, hay cả những chiếc ống khói nhà máy tráng lệ đã khiến tôi chết lặng người cái lần đầu xem An Autumn Afternoon trong căn phòng trọ không cửa sổ (như thể một phòng tráng phim) ở Hà Nội cách đây 4 năm. Sau khi nhà nước rút vốn đầu tư khỏi ngành sản xuất thuốc lá năm 1999 và lần lượt qua tay rất nhiều các công ty thuốc lá khác nhau của châu Âu, nhà máy đóng cửa năm 2010 rồi được thành phố mua lại vào năm 2015 để lấy đất xây dựng một khu tổ hợp mới với trường nghệ thuật, khu dân cư và mở rộng khuôn viên trường Đại học; “la Fabrique du Futur” chính là tên của khu tổ hợp ấy. Hiện trạng bỏ hoang, đang được tháo dỡ của nó cho phép tôi đi xuyên qua khu vực bên trong nhà máy để ra ngoài phố đằng sau, một con phố với cái tên không thể khác: rue de la Manufacture des tabacs. Dọc đường ấy, nối từ la Krutenau ngược sang Esplanade, sẽ dẫn tôi đến một góc khuôn viên của trường Đại học Strasbourg mà suốt 5 tháng đầu trong 6 tháng ở đây tôi chưa một lần đặt chân đến.
Khi nhìn mọi thứ qua một khung hình, nếu ở quá cao, cảnh tượng khu phố sẽ chỉ như một tấm bản đồ, nếu ở quá thấp, những gì ta thấy sẽ không khác gì những hình ảnh rời rạc được cắt ra từ một tạp chí du lịch.

Có lẽ từ buổi sơ khai của điện ảnh, các nhà làm phim khi được trao tay thứ quyền lực tối thượng với tất cả chuyển động của không gian và thời gian cũng đã thấy choáng ngợp trước trọng trách quá lớn của mình như vậy. Dường như vì thế mà người ta giới hạn mình lại trong những phim trường, trong những khung hình chật hẹp (Lubitsch từng nói ông đã ở cả Paris thật lẫn Paris trong phim trường của Paramount và ông thích Paris của Paramount hơn; giờ đây tôi mới thực sự hiểu lời Lubitsch). Rồi dần dà những khung hình mở rộng ra: 4:3, 16:9, rồi 21:9, các đạo diễn bắt đầu tìm ra ngoài thiên nhiên, đường phố, hòng ghi lại chính xác nhất hiện thực. Nghịch lý đó là khi mọi thứ tưởng như gò bó và hạn hẹp nhất thì trí tưởng tượng và sức sáng tạo của người nghệ sĩ lại bay cao nhất. Hãy nhìn cái cách mà Hitchcock thay đổi lịch sử điện ảnh với khung cảnh chỉ giới hạn trong vài ba tòa nhà và một khoảnh sân trong Rear Window (đừng hiểu lầm, từ lâu tôi đã không còn coi Hitchcock là một vị thánh nữa rồi), hay như Hầu Hiếu Hiền, một đạo diễn đương đại, tự kìm kẹp mình trong những không gian kín, xung quanh chiếc bàn ăn để rồi chính tay phá bỏ những giới hạn hệ quả mà các đạo diễn khác luôn phải vò đầu bứt tai khi đối mặt. Với những người như Ozu hay Hong Sang-soo, dường như chính những giới hạn, những gông cùm ấy lại là tiền đề, là phương tiện để họ sáng tạo và bộc lộ năng lực nghệ thuật của mình.

Guerín hiểu dù có tái hiện lại như thật những sắc màu của các ngôi nhà, những kiến trúc cổ kính hay những con đường lát đá ở đây, nó vẫn chỉ là cái vỏ vô hồn của một thành phố. Và có lẽ Jean Renoir đã đúng khi cho rằng tái tạo lại như thật một khu rừng đến tận độ dày của vỏ cây hay mùi hương của hoa cỏ trong rạp phim (thứ mà ngày nay chúng ta gọi là 4D – 5D) sẽ chỉ gây nên buồn tẻ vì người ta luôn có thể đi xe đến khu rừng thật để ngắm nghía, sờ mó, hít hà thay vì ngồi trước màn ảnh. Sẽ chẳng nghĩa lý gì khi dựng lại một thành phố nếu người ta có thể đi du lịch đến tận nơi để thăm quan và thưởng ngoạn cảnh trí. Vậy nên, thay vì ghi lại dáng hình của Strasbourg, Guerín bắt lấy hơi thở của nó.
Một trong những đặc trưng của Strasbourg mà tôi không tin mình có thể gặp lại ở bất kỳ nơi đâu (họa chăng chỉ có Praha/Prague hay Budapest, nhưng theo một cách rất khác), đó là những chiếc tram. Strasbourg có mạng lưới tramway sánh ngang với mạng lưới tàu điện ngầm métro của Paris nếu xét đến quy mô của hai thành phố. Nó đủ lớn để cần một hệ thống giao thông công cộng tốc độ cao và cũng đủ nhỏ để một phương tiện di chuyển trên mặt đất như tram có thể chạy chậm lại khi đi qua những khu phố cổ giữa lòng thành thị hay những tuyến đường cho người đi bộ mà không làm giảm đáng kể thời lượng di chuyển giữa các bến. Khác với hầu hết các thành phố khác ở châu Âu lục địa, các con đường của nó đủ rộng để hai luồng ray luôn có thể được lắp song song và các tram không phải tránh nhau (tên gọi Strasbourg có nghĩa là thành phố của những con đường). Nếu coi người dân Paris dựng lên mạng lưới métro để làm sống dậy những kết nối ngầm của thành phố mình, tramway chính là cách người Strasbourg quy hoạch lại thành phố về với những gì cốt lõi nhất, ngay trên mặt đất.
Trong Dans la ville de Sylvia, bộ phim mà bản thân thành phố Strasbourg (dù không được trực tiếp gọi tên) cũng là một nhân vật, chuyển động của thứ phương tiện này chính là cách Guerín gợi lên linh hồn của nhân vật ấy. Khi anh chàng họa sĩ theo chân cô gái mà anh ngỡ là người mình đã gặp 6 năm trước giữa những con phố của la Grande Île, anh tiến lên ngang cô, hai người đi hai bên đường ray, và một chiếc tram vụt qua giữa. Sau khi anh tìm thấy cô qua cửa sổ một quán cà phê không lâu trước đó, lúc này, qua ô kính tram, hình ảnh cô như thể đi ra từ một cuộn phim còn chiếc tram chính là chiếc máy chiếu đang tua nhanh những khung hình tĩnh để tái hiện chuyển động. Một lần nữa, những cái khung lại mở ra thế giới của phim ảnh, của những mộng tưởng, khát khao, thèm muốn từ sâu thẳm tâm can con người. Ký ức sống dậy (ký ức của ai? thực hay giả? hoài mong hay ám ảnh?), anh những tưởng mình đã thực sự tìm được Sylvie trong mộng của mình, hay chính xác hơn, Sylvie trong cuộn phim ký ức mà anh đã giữ cho mình suốt 6 năm. Anh tiếp tục đuổi theo cô (mà không biết cô đang cố cắt đuôi anh) đến bến tram, và rồi cùng cô bước vào một chiếc tram. Ở thành phố của Sylvie (Strasbourg không được gọi tên, vì với anh nó chỉ đơn giản là thành phố của cô gái mà anh tương tư), lúc này anh mới thực sự đi vào linh hồn của nó, đi vào trong những thước phim và đối diện với nàng thơ mà ký ức của mình đã níu giữ (hoặc thêu dệt nên). Khi ấy, tác phẩm mà suốt những phút trước đó chỉ như một bộ phim câm với những âm thanh thường nhật được nhấn nhá theo phong cách Robert Bresson (đặc biệt là tiếng động cơ và tiếng chuông leng keng của những chiếc tram khi đi qua đường đi bộ – liệu còn nơi nào mà tiếng chuông của tramway cũng len lỏi đến mọi ngõ ngách và điểm tô cho âm thanh thường nhật như ở đây không?) mới lần đầu tiên và duy nhất, một cách vô cùng sửng sốt, thật sự có lời thoại. Anh cất lời mở lòng với nàng thơ của mình, nhưng kết quả chỉ là sự vỡ mộng. Bước ra khỏi tram, anh không bao giờ trở lại vào trong nữa, kể cả ở đoạn kết của phim, khi anh ngồi trên bến nhìn chúng đi qua và trong một khoảnh khắc, dáng hình của Sylvie – lúc này đã chẳng còn hiện diện trên mọi gương mặt anh thấy xung quanh nữa – lại hiện lên qua ô kính. Ký ức (hoặc tưởng tượng) về nàng anh chỉ còn đau đớn cất giữ trong cuốn phim ký ức đang được chiếc tram đi qua phóng chiếu lên. Phim khép lại bằng cảnh một chiếc tram nữa tiến đến rồi khuất dạng sau những khúc quành trên quảng trường place Saint-Piere-le-Vieux, để lại một hoàng hôn tím nhợt đượm màu từ biệt.

Một câu chuyện về chàng nghệ sĩ ôm mộng với nàng thơ, một l’amour fou (tình khờ), như tình yêu của chàng Werther dành cho Lotte trong tiểu thuyết của Johann Wolfgang von Goethe. Gợi nhắc đến Goethe, sẽ chẳng còn nơi đâu thích hợp hơn Strasbourg. Goethe có tầm quan trọng với Strasbourg và Alsace – nơi tài năng văn chương của ông bắt đầu nở rộ – đến mức ông được dựng tượng ngay quảng trường trung tâm place de l’Université. Từ la Krutenau, đi dọc theo ke sông Ill (quai des Bateliers) giáp với Grande Île, sẽ có một con phố cắt ngang mang cái tên gợi lên tất cả quá khứ của khu vực với những hệ thống sông ngòi, kênh rạch đan chéo đất đai, rue du Vieux-Marché-aux-Poissons, nơi có ngôi nhà ngày xưa Goethe từng ở khi còn là sinh viên Luật ở Đại học Strasbourg: Maison de Goethe. Không những thế, tên Goethe còn được đặt cho một con phố, rue Goethe chạy dọc phía sau của một nơi rất thân quen với tôi: Đài thiên văn Strasbourg (“tòa lâu đài” theo lời thầy giáo của tôi). Ngày đầu tìm đường đến nơi đây tôi đã đi lạc vào con phố lúc nào cũng vắng người ấy, với một bên đường là những ngôi nhà mái ngói màu ghi tường nâu nhạt nổi bật những chiếc ban công kiểu Tân cổ điển nhỏ xinh san sát nhau, một bên đường là những cây lá cuối hạ xanh mướt dưới ánh nắng tháng Chín chan hòa qua hàng rào của khu vườn bách thảo Jardin botanique de l’Université, màu xanh mà giờ đây sau một mùa đông dài lạnh lẽo nhớ lại tôi cảm giác như chỉ có thể tới từ một thế giới cổ tích.
Từ Goethe, người ta có thể kể tên tiếp một nhân vật nữa cũng trực tiếp gắn với Strasbourg: Gustave Doré – người minh họa cho Don Quixote của Cervantes mà Goethe vô cùng sùng bái. Có quá không khi nói tất cả những hình dung của chúng ta ngày hôm nay về Don Quixote đều tới từ Doré? Orson Welles trong những năm trốn chạy khỏi Hollywood cũng đã bắt tay làm phim Don Quixote, nhưng như rất nhiều những dự án chuyển thể văn học dang dở khác của ông, bộ phim không bao giờ đến được ngày đóng máy. Nếu xem bản phim được Jesús Franco dựng lại một cách không hoàn chỉnh từ những gì Welles để lại, ta có thể thấy rõ tất cả những thiết kế trường quay, nhân vật và phục trang đều từ những bức họa của Doré mà ra. Nói cách khác, đó vẫn chỉ là “Don Quixote à la Doré”. Cách không xa Maison de Goethe, chỉ vài trăm mét, về phía bên sườn tòa nhà thờ Gothic nổi tiếng (Cathédrale Notre-Dame de Strasbourg) là ngôi nhà tuổi thơ của Doré, số 6 rue des Écrivains, nơi chứng kiến những tác phẩm hội hoạ đầu tiên của ông, trước khi Doré cùng gia đình rời Strasbourg đến Bourg-en-Bresse và sau cùng là Paris để theo đuổi nghiệp vẽ, như bao danh họa một thời của châu Âu. Cái ngày còn ngấu nghiến cuốn Don Quixote dày cộp Trương Đắc Vỵ dịch trên căn gác nhỏ nhà mình và mê mẩn những bức vẽ của Doré, tôi chẳng bao giờ mơ rằng sẽ có một ngày mình được ở nơi sinh thành của ông.

Câu chuyện của Dans la ville de Sylvia liệu có chạm tới nhiều khán giả? Tôi nghĩ câu hỏi đó cũng tương đương với câu hỏi ngày nay còn bao nhiêu người có thể cảm nhận được từng câu chữ miêu tả tâm tư chàng Werther của Goethe? Và người xem có thể đồng cảm đến đâu với cách anh chàng nhân vật chính ám ảnh để rồi bám đuôi cô gái tới độ nhiều người có thể gọi là trơ tráo và bệnh hoạn như vậy? Xem phim chính là một dạng ám ảnh, một kiểu dòm ngó vì thèm khát một thế giới riêng tư không thuộc về ta (nữa). Tâm tư chàng họa sĩ ấy, có lẽ tôi hiểu hơn ai hết, bởi chính tôi lúc này đây cũng đang lang thang giữa những con phố của la Krutenau để tìm lại hình bóng em, trên chiếc ghế đá trong công viên nhỏ giữa place du Pont-aux-Chats – một cái tên thật huyền bí và màu nhiệm – nơi chúng tôi đã ngồi ăn suất ăn từ nhà ăn sinh viên mà vài phút trước đó chúng tôi đã phải hộc tốc chạy đến để không lỡ giờ đóng cửa trước ngày Giáng sinh; an tọa trên chiếc ghế ấy cùng hai chúng tôi là hai hộp quà mà cả tôi lẫn em đều đang háo hức được mở ra. Cũng như anh chàng họa sĩ, loanh quanh trong những con phố trung tâm (của Grande Île và Neustadt), tôi kiếm tìm em trước Nhà hát quốc gia Théâtre National de Strasbourg cái lần chúng tôi giận nhau (trong danh mục chương trình hôm ấy có Dekalog của Krzysztof Kieślowski) để rồi tôi bỏ về nhà trước, em về sau tôi mang theo một chậu cây nhỏ mừng Giáng sinh em đã mua trong một cửa hàng ở place Gutenberg; mái tóc ngắn ướt nước mưa và đôi mắt trong ngần của em lúc em mở cửa ra tưởng như có thể xua tan tất cả giá lạnh và mây mù của chiều đông hôm ấy. Và rồi giờ đây mỗi khi lang thang trên những con đường nhỏ lát sỏi của la Petite France, tâm trí tôi lại quanh quẩn trong ký ức về buổi tối rực sáng ánh đèn lễ hội chúng tôi đã nắm tay nhau đi dọc bờ sông nước xiết ào ào trong khu phố của những người thợ thuộc da.


Thả bước trên những con phố cổ kính của la Krutenau tối nay, một ngôi nhà tập thể còn sáng đèn với những chiếc cầu thang cũ kỹ làm thức dậy trong trí nhớ tôi khung cảnh gian phòng tối tăm nơi ngân vang điệu nhạc mà nhân vật nhà thơ sắp từ giã cõi đời và người hàng xóm vô danh thường dùng để giao tiếp với nhau trong Eternity and a Day của Theo Angelopoulos.

Angelopoulos, một cái tên vọng về từ quá khứ. Một vị thánh của cái mà người ta vẫn gọi là modern (Pan-)European arthouse. Tôi tự hỏi mình có còn thật sự thích Angelopoulos và Eternity and a Day như ngày trước không? Trong cái nhìn của tôi ở hiện tại Eternity and a Day chẳng còn là gì hơn một bộ phim uể oải và rệu rạo, một tác phẩm lúng túng và lạc lối trong chính luận đề mà nó phô trương ra. Một bộ phim hợp với những người thích tìm các trích dẫn bắt tai, chụp lại những shot hình ấn tượng (Angelopoulos rất giỏi trong việc nhồi nhét tất cả những gì tráng lệ nhất vào trong khung hình), hay thi vị hóa một bộ phim với những đề tài lãng mạn về bản ngã, số phận, hồi ức của con người. Còn Angelopoulos? đóng góp của ông cho điện ảnh là không thể phủ nhận (Landscape in the Mist, The Suspended Steps of the Storks thật sự là những kiệt tác của mọi thời đại), thế nhưng với tôi rất nhiều những bộ phim còn lại của ông nghe sang tai khi đọc những giải thích, bình luận của đạo diễn (Angelopoulos thường xuyên cung cấp những lý giải cho các tác phẩm của mình) hay các nhà phê bình (mà trong trường hợp này một phần không nhỏ đến từ phía đạo diễn) nhưng trên màn ảnh thì mọi thứ dường như đều trống rỗng. Biên giới của Angelopoulos có là gì so với biên giới của Jean Renoir? Những gánh hát (đoàn kịch) đường phố (The Traveling Players) của Angelopoulos dù có lặp đi lặp lại vẫn chẳng bao giờ có thể sánh được với những nghệ sĩ hát rong, những người quay đàn barrel organ chỉ thoáng qua của Renoir trong French Cancan hay La Chienne. Angelopoulos có thể khắc họa thứ lịch sử với chữ cái đầu viết hoa (History), thứ lịch sử được ghi chép và nghiên cứu, nhưng History ấy sớm trở nên thật lỗi thời khi được hiện đại hóa một cách quá trớn (Angelopoulos đã tạo nên một kỳ tích: làm lỗi thời cả lịch sử/Lịch sử), và nếu so sánh với John Ford, một cái tên đã bị xếp xó vào cái thời Angelopolous được ngợi ca khắp châu Âu, ta sẽ thấy có lẽ History mãi mãi chỉ nên là history.


Nói vậy mà lúc này đây tôi có khác gì người thi sĩ sắp từ biệt cõi đời trong Eternity and a Day không? Mỗi khi đi khỏi nơi đâu, tôi luôn có cảm giác như một phần trong tôi sẽ chết đi, sẽ còn mãi lại nơi mà tôi đã từng gắn bó ấy. Phải rồi, cả tôi nữa, chính tôi cũng sắp chết đi một phần khi rời xa Strasbourg này, chính tôi cũng đang viết ra những câu chữ tràng giang đại hải không đầu không đuôi về một thành phố mà tôi chưa bao giờ thuộc về kia, và giờ đây chính tôi cũng đang lạc lối khi nhìn vào đoạn phim cuộc đời mà không ai khác ngoài tôi đã đạo diễn và sắm vai chính trong đó như Angelopoulos từng lúng túng trong Eternity and a Day. Thật khó trách ông bởi khi đứng trước một chủ đề như cái chết, người ta sẽ rất dễ lạc lối trong cái vòng tròn lẩn quẩn của nhung nhớ, khắc khoải, nuối tiếc.

Nếu có điều gì trong Eternity and a Day vẫn khiến tôi còn nguyên rung động sau từng ấy năm, đó chính là một trong những câu thoại mở đầu: “Ông tao nói rằng thời gian là một đứa bé chơi xúc xắc bên bờ biển.” Nhất là trong giờ phút này, khi những ký ức về 6 tháng của một cuộc đời sắp kết thúc đang tràn về tới tấp trong tôi như những đợt sóng biển dâng trào xô bờ cát trắng. Liệu rằng chiếc xúc xắc của thời gian có làm cho ngày mai của tôi dài thêm một thiên thu?


Strasbourg, 17/1/2021 – 25/2/2021

place du Pont-aux-Chats
place du Pont-aux-Chats, 15/1/2021

Leave a comment